Con người như cuộc chiến

Sự lừa dối hào nhoáng, John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam.
Tác giả: Neil Sheehan.

Ronald Steel
Giáo sư chuyên ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Nam California, là tác giả của “Walter Lippmann và thế kỷ Mỹ”, “Pax Americana” và nhiều cuốn sách khác về chính sách đối ngoại
Nytimes:  25 tháng 9 năm 1988

Bìa sách: Sự lừa dối hào nhoáng. Tác giả: Neil Sheehan

Có những cuộc chiến tranh được nhớ đến bởi những người hùng. Những công viên của chúng ta vẫn đặt nhiều bức tượng các vị tướng oai phong trong dáng kìm cương trên lưng ngựa. Nhưng cuộc chiến tranh Việt Nam lại được nhớ đến bởi các nạn nhân của nó: những người Mỹ đã chết và bị thương bởi những “lý do quốc gia” mà ít người bây giờ nhớ được là gì, những người Việt Nam đã tổn thất sinh mạng bởi những cỗ máy quân sự của địch thủ. Có lẽ sẽ là phù hợp hơn cả nếu tượng đài tưởng niệm những người chết trong cuộc chiến này là một dấu gạch chéo trong lòng đất với một danh sách tên của những người đã ngã xuống.

Nhưng tất nhiên, vẫn luôn có các anh hùng tại Việt Nam, những người đã chiến đấu, đã chết một cách can trường và trung thành với đồng đội; những người đã nghĩ rằng họ chiến đấu để bảo vệ một lý tưởng, mặc cho các nhà lãnh đạo của họ ở nhà có thực sự tin vào nó hay không. Sẽ là một công việc viết lách rất khó khăn cần nhiều nỗ lực để kết nối cuộc chiến, những hy sinh của những con người này với các trò chính trị của chiến tranh, để kết nối sự thật trên chiến trường với sự trốn tránh và ảo tưởng của các nhà hoạch định chính sách.

Chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục ám ảnh tâm thức chúng ta. Nguyên do không chỉ vì 58.000 người Mỹ đã chết, bởi lẽ con số người Mỹ chết ở cả hai cuộc thế chiến đều lớn hơn thế. Cũng không phải là vì chúng ta đã bị đánh bại, bởi đối với hầu hết người Mỹ, cuối cùng họ đã nhận ra rằng điều đó còn tốt hơn nhiều là sự đổ máu không có hồi kết cho một nguyên nhân mà các nhà lãnh đạo của họ không thể giải thích. Thay vào đó, nó ám ảnh có lẽ là bởi vì Việt Nam là mồ chôn của cái hình ảnh mà chúng ta vẫn thường giữ lấy cho mình: nước Mỹ là người bảo vệ những kẻ bị áp bức. Ở Việt Nam chúng ta đã thấy chính mình là một đế quốc, không phải đấu tranh cho dân chủ mà chỉ để chứng minh rằng phong trào “chiến tranh giải phóng dân tộc” do Cộng sản lãnh đạo không phải là làn sóng của tương lai.

Nhiều quyển sách viết về Việt Nam mang ý nghĩa tỉnh mộng: ở những người Việt Nam, ở các nhà lãnh đạo của chúng ta, và ở bản thân chúng ta. “Sự lừa dối hào nhoáng” như tiêu đề của nó, bắt nguồn từ sự tỉnh mộng ấy. Một cách sống động, quyển sách đã kịch tính hóa và tố cáo không khoan nhượng các nhà địa chính trị ở Washington, những người “muốn chế độ bản địa hoạt động như kẻ đại diện cho sức mạnh Mỹ.” Nó tố cáo một đường lối quân sự Mỹ của “sự kiêu ngạo nghề nghiệp, sự thiếu trí tưởng tượng, và sự vô cảm về đạo đức và trí tuệ”, một giới tinh hoa Mỹ “choáng ngợp bởi quá nhiều tiền, quá nhiều tài nguyên, quá nhiều quyền lực, và quá nhiều thành công” và tố cáo một nhân vật chính được ngưỡng mộ, một người hóa ra là một cái gì đó khác hơn cái người ta vẫn nghĩ.

Như hầu hết các tác phẩm kiểu vạch trần, sức mạnh của cuốn sách hấp dẫn này nằm ở sự phẫn nộ của nó. Sự phẫn nộ ngấm vào những đoạn miêu tả phi thường về cuộc chiến, các mưu đồ của những kẻ dốt nát, dễ bị mua chuộc ở Washington và Sài Gòn, và trên tất cả là về cuộc đời của một con người, vừa anh hùng vừa phi anh hùng. Vô cùng dài, vô cùng tham vọng, câu chuyện được kể với một cảm xúc như đang vỡ òa trên những trang sách. Đó thực sự là một thành tựu rất ấn tượng. Nếu có một cuốn sách ghi lại cuộc chiến tranh Việt Nam với sự nhiệt huyết và niềm đam mê lớn lao có tầm vóc như những trường ca Homer, đó chính là cuốn sách này.

Thông qua nhân vật John Paul Vann, một con người can đảm tuyệt vời và hết sức khôn ngoan, Neil Sheehan đã soạn ra một bản nhạc vĩ đại gợi lên tất cả mọi yếu tố của cuộc chiến tranh: sự xung đột của ý chí và những ảo tưởng tự dối mình của quân đội và bộ máy dân sự quan liêu Mỹ, những sức mạnh lịch sử đã đẩy hai bên vào cuộc xung đột, những trận chiến khủng khiếp đã cướp đi những người lính thiện chiến nhất, và những con người đã mang lại ý nghĩa cho cuộc chiến tranh này.

Khi Sheehan, 26 tuổi, lần đầu tiên đến Sài Gòn với tư cách phóng viên vào tháng Tư năm 1962, chỉ có khoảng một chục các phóng viên thường trú và ít hơn 5.000 quân nhân Mỹ đang ở Việt Nam. Tại thời điểm đó chiến tranh vẫn còn là một cuộc phiêu lưu, Việt Cộng do Cộng sản lãnh đạo dường như chỉ là một mối phiền toái mà với sự hướng dẫn của Mỹ, quân đội miền Nam Việt Nam có thể dễ dàng khuất phục. Kịch bản xấu nhất cho cái gọi là chiến thắng của Lầu Năm Góc là chậm nhất vào năm 1965, không có hơn 1.600 người Mỹ vẫn ở Việt Nam. (Thực tế đến năm 1965, sẽ có gần 185.000, và 543.000 vào năm 1969.) Nhưng không phải tất cả các cố vấn Mỹ cho quân đội miền Nam Việt Nam có cùng sự lạc quan này. Trong số những người hoài nghi, thẳng thắn nhất là John Paul Vann, một trung tá đã phục vụ trong chiến tranh Triều Tiên, anh đến Việt Nam trước Sheehan một thời gian ngắn.

Vann nghĩ rằng anh được phái đến đây để giúp một nền dân chủ bị chèn ép, đang bảo vệ các quyền tự do của nó. Nhưng những gì anh gặp phải trên thực tế là một quân đội Việt Nam không muốn chiến đấu, một bộ máy sỹ quan ngập chìm trong tham nhũng của chính quyền Sài Gòn, một chiến lược quân sự dựa trên các vụ đánh bom và pháo kích bừa bãi vào những làng mạc nông thôn và một hệ thống xã hội phong kiến nhường nhiệm vụ cải cách cho những người cộng sản.

Vann là một sĩ quan trung thành và tận lực. Anh không có gì bức xúc với bản thân cuộc chiến. Điều này cũng giống như nhiều nhà báo phần lớn còn trẻ khác, được gửi đến đây để làm báo về nó. “Chúng tôi coi cuộc chiến này như cuộc chiến của chúng tôi,” Sheehan nói về bản thân và các đồng nghiệp của mình. “Chúng tôi tin vào những gì chính phủ của mình cho biết họ đang cố gắng để thực hiện tại Việt Nam, và chúng tôi mong muốn đất nước mình giành chiến thắng cuộc chiến này cũng nhiệt thành như Vann và cấp trên của anh.”

Nhưng đó là một cuộc chiến mà chính quyền Sài Gòn đang thua. Thất vọng và giận dữ, Vann đã cố gắng nói với cấp trên của mình rằng chiến lược chiến tranh phá hoại là một thất bại, rằng việc tàn phá vùng nông thôn là một chiến thắng ngược của Việt Cộng, rằng các chỉ huy quân đội miền Nam Việt Nam quan tâm đến việc làm hài lòng các ô dù của họ ở Sài Gòn hơn là việc đánh bại những người Cộng sản, và rằng các nhà quan chức của nước này nhìn thấy sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến này như một cách để họ moi tiền.

Chẳng có gì ngạc nhiên khi chỉ ít người ở Sài Gòn quan tâm đến những gì anh nói. Lời thỉnh cầu của anh về sự thay đổi chiến lược không được để ý, Vann có một bài học về bộ máy quan liêu Washington và anh bắt đầu rỉ thông tin với giới truyền thông. Anh thành lập một liên minh ngầm với các phóng viên, kể cho họ sự thật về cuộc chiến để qua mặt các cộng sự cấp trên ở Sài Gòn và Washington. “Vann là người dạy chúng tôi nhiều nhất, có thể nói rằng nếu không có anh ta các báo cáo của chúng tôi sẽ không được như thế,” Sheehan viết. “Anh ấy đúng là một chuyên gia mà chúng tôi còn thiếu, một sự đảm bảo mang lại sự thay đổi về chất trong những gì chúng tôi viết . . . . Anh đã biến chúng tôi thành một băng nhóm các phóng viên thể hiện quan điểm của John Vann về cuộc chiến.”

Sheehan đã vẽ ra một chân dung hấp dẫn về Vann, làm cho chúng ta cảm nhận được ở anh năng lượng, sự tận tâm, lý tưởng, sự dũng cảm và tài hùng biện – tất cả những điều khiến anh trở thành huyền thoại ở Việt Nam. Đối với các phóng viên ngưỡng mộ tụ tập quanh anh, các sỹ quan trẻ, những người khâm phục anh ở sự can đảm trên chiến trường và sự sẵn sàng đối đầu với các tướng ở Sài Gòn, anh là một nhân vật vĩ đại, người có “trong cốt lõi của con người huyền thoại một chủ nghĩa anh hùng nhân đạo”

Khi Vann, 39 tuổi, rời Việt Nam vào tháng Tư năm 1963, hoàn thành một năm nghĩa vụ, một nhóm những người hâm mộ đã đi tiễn, họ “tự hào cho anh và những gì anh đã cố gắng để đạt được,” nhưng họ buồn bởi vì chắc rang rồi anh sẽ bị trừng phạt vì vi phạm nguyên tắc. Đối với họ, anh là “một trong những anh hùng đích thực của thời kỳ đáng xấu hổ này . . . . là một David đã đứng lên chống lại một Goliath của thể chế dối trá và tham nhũng.” Nỗi lo lắng về tương lai của anh càng được xác nhận khi anh từ chức ở quân đội vào tháng Bảy, sau khi Lầu Năm Góc dường như có ý định trừng phạt anh vì tội cứng đầu.

Nhưng Vann không thể tách mình khỏi Việt Nam. Hai năm sau anh trở lại, không phải với tư cách sỹ quan, vì quân đội không để anh ta trở lại chức vụ cũ, mà với tư cách là một nhân viên bình định ngạch dân sự làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế. Ngay trong tháng đầu tiên khi anh mới quay lại, Tổng thống Lyndon Johnson đã leo thang chiến tranh bằng cách ném bom miền Bắc Việt Nam và gửi Thủy quân lục chiến Mỹ đến bảo vệ căn cứ không quân tại Đà Nẵng. Lúc người Mỹ thực sự nắm lấy cuộc chiến tranh, ở Sài Gòn một loạt các sĩ quan quân đội thân Washington cũng lên nắm quyền và cùng nhau chia chác những lợi phẩm từ Mỹ mang tới .

Vann tất nhiên không có ảo tưởng nào về các ông tướng ở Sài Gòn, nó không phải là sự khinh miệt như từ những người nông dân. “Nếu không phải vì Việt Nam chỉ là một con tốt trong cuộc đối đầu Đông-Tây, và vì sự hiện diện của chúng ta ở đây là cần thiết để ngăn chặn tài nguyên vùng này khỏi rơi vào tay Cộng sản Trung Quốc, thì quá khó để biện minh cho sự ủng hộ của chúng ta cho chính phủ hiện tại”, anh viết cho một người bạn trong quân đội vào năm 1965. “ . . . Tôi tin rằng, mặc dù Mặt trận Dân tộc Giải phóng là chủ yếu là Cộng sản, đa số những người ủng hộ nó là bởi vì nó là hy vọng duy nhất của họ để thay đổi và cải thiện điều kiện và cơ hội sống. Nếu tôi là một chàng trai mười tám phải đối mặt với sự lựa chọn tương tự – ủng hộ Chính phủ Việt Nam hoặc quân giải phóng – và nếu là một người ở nông thôn, tôi chắc chắn sẽ chọn quân giải phóng”.

Đối với Vann, vấn đề là ở Sài Gòn, không phải là bản thân cuộc chiến tranh. Với thương vong của Mỹ ở Việt Nam ngày càng tăng lên, anh cho rằng Washington có thể buộc phải đối mặt với những sai lầm của mình bằng cách qua mặt Sài Gòn và ủng hộ cho một cuộc cách mạng xã hội để giành những người nông dân ra khỏi Cộng sản. “Điều đang rất cần,” anh viết cho bạn anh, Daniel Ellsberg vào năm 1967, “là một ông đại sứ có phong cách thực dân, năng động, tàn nhẫn, mạnh mẽ với đủ quyền lực để có thể cách chức tướng lĩnh, quan chức và những đứa khốn nạn khác, những kẻ không tuân theo chính sách rõ ràng về vai trò của Mỹ  trong việc bổ nhiệm và sa thải các quan chức Việt Nam, dù chỉ ở mức tối thiểu.

Nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ đã làm trước. Vào năm 1968 tướng William Westmoreland, tác giả của chiến lược “chiến tranh phá hoại”, người đã mất uy tín bởi cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản mùa đông năm đó, bị cách chức và phải về nước. Lyndon Johnson cũng là nạn nhân của Tết Mậu Thân, tuyên bố sẽ không ra tái tranh cử. Mỹ đã bắt đầu tìm đường thoát khỏi Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>