Anh Văn – người anh cả, người thầy, người thủ trưởng thân thương

Anh Văn – người anh cả, người thầy, người thủ trưởng thân thương của Đặng Văn Việt và Trung đoàn 174 – Quả đấm thép của anh.

Tác giả: Đặng Văn Việt
Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174

Tác phẩm tham dự Cuộc thi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp của báo Đời sống & Pháp luật.

“Hùm xám đường số 4″ Đặng Văn Việt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Internet

Tối 4/10/2013, tôi đang ở Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19h tôi được một người cháu trong gia đình Anh Văn gọi điện thoại thông báo rằng Đại Tướng vừa qua đời lúc 18h09. Có lẽ tôi là một trong những người đầu tiên nhận được tin này. Sau đó tôi điện cho một số bạn bè tại Hà Nội , TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu … Nhưng chưa một ai biết tin .

Tôi lịm đi ngậm ngùi thương tiếc người Anh Cả mà tôi luôn mến phục, yêu quý. Từ nay, tôi không còn may mắn được gặp lại Anh. Người mà mỗi lần gặp, Anh lại chủ động đưa tay nắm chặt tay tôi. Mỗi lần có dịp chụp ảnh, Anh đều gọi: “Việt, đứng cạnh tớ”.

Bao kỷ niệm, bao hồi ức – vui có, buồn có – và các trận chiến dưới sự lãnh đạo của Đại Tướng lại hiện ra như những tia chớp loé trong đầu tôi:

* “Việt, bỏ nghề y, về với Bộ Tổng Tham Mưu! ”:

Sau hội nghị Fontainebleau tại Pháp tôi có cảm nghĩ có lẽ chiến tranh tạm dừng, tôi xin trở lại trường Đại học Đông Dương để tiếp tục học nghề y mà tôi phải tạm ngừng để tham gia kháng chiến.

Nhưng quân Pháp gây hấn ở Lạng Sơn và tôi được cử lên làm quân y sỹ tại mặt trận Đồng Đăng – Na Sầm. Một hôm tôi đang băng bó vết thương cho một chiến sỹ, bỗng có tiếng gọi: “Việt, Việt đấy à. Bao nhiêu điện của Bộ Tổng tham mưu gọi mà không tìm ra tăm hơi cậu. Chuẩn bị ba lô về ngay bộ với tớ”. Người gọi là bác sỹ Vũ Ngọc Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đang đi thị sát mặt trận.

Đến Yên Thông (Bắc Cạn), anh Cẩn dẫn tôi lên gặp anh Hoàng Văn Thái Tổng tham mưu trưởng. Anh vui vẻ bảo tôi: “Cậu đã qua chiến đấu trên mặt trận đường số 9, số 7, bây giờ là của hiếm. Tạm gác nghề y đi, từ ngày mai, cậu là Trưởng ban nghiên cứu tác chiến của Phòng tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, Đặng Quang Thụy là phó cho cậu”.

Trong thời gian mới bắt đầu này, bộ máy tổ chức cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu chưa được hoàn thiện. Có bộ phận có tên nhưng chưa có người. Cán bộ thì kiêm nhiệm, chắp vá. Hễ có việc gì gấp là anh Văn, anh Thái lại huy động nhóm tham mưu trẻ chúng tôi, cùng chung sức làm việc. Tôi nói đùa: “Thật thà mà nói, chúng mình chỉ có tham là nhiều, còn mưu là con số 0″.

Chúng tôi phải vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm.

Cứ mỗi lần họp các Quân khu trưởng (các anh Chu Văn Tấn, Lê Quảng Ba, Nguyễn Sơn, Hoàng Minh Thảo, Bằng Giang…) anh Văn lại huy động tôi và anh Quang Thụy làm thư ký ghi chép. Anh Văn vừa dứt lời kết luận hội nghị thì tổ thư ký đã xin đứng lên đọc biên bản cuộc họp. Vài ý kiến sửa chữa, bổ sung là hoàn thành biên bản. Chỉ chậm hơn computer thời nay một chút. Hồi ấy mà làm nhanh được như vậy, anh Văn rất vui lòng.

* “Việt, ở lại đường số 4, đánh Tây !” :

Sau khi thành lập được chính phủ bù nhìn Bảo Đại và chiếm được một số tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, tướng Salan – Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc bộ – huy động 12.000 quân, mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt chính phủ kháng chiến của Cụ Hồ, diệt một số quân chủ lực của Việt Minh, phá một số kho tàng.

Sáng 7/10/1947, bầu trời Yên Thông đột nhiên ầm vang tiếng máy bay Dakota, Spitfire. Tiếp theo, có tin giặc Pháp nhẩy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Đồn, Chợ Mới, Cao Bằng nhằm dập tắt cuộc kháng chiến của chúng ta từ trong trứng nước, đúng như ta đã dự đoán.

Cả bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu được huy động vào cuộc chiến. Anh Văn đi về hướng Lạng Sơn, anh Thái đi về hướng Sông Lô.

Sau một cuộc họp ở Vũ Nhai, anh Thái gọi tôi đến cạnh anh Văn và bảo: “Việt, chuẩn bị ba lô, 6h sáng mai có mặt ở cổng đình làng đi cùng anh Văn, anh Trưởng lên Lạng Sơn, ngựa Bộ Tổng Tham Mưu lo”.

Đến Bình Gia, anh Văn làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban, Tỉnh đội Lạng Sơn bàn việc thành lập tiểu đoàn tập trung và một số đại đội độc lập để chuẩn bị chiến tranh du kích và vận động chiến.

Trước khi ra về, anh Văn ra lệnh: “Anh Đào Văn Trường ở lại mặt trận đường số 4 làm đặc phái viên của Bộ, anh Đặng Văn Việt ở lại làm đặc phái viên đốc chiến cho Trung đoàn 11, Tiểu đoàn 249 và Tiểu đoàn 23″.

Như số trời đã định, từ tháng 10/1947, cuộc đời tôi gắn chặt với đường số 4. (ĐS) Mặc dù không qua một trường lớp dài hạn nào, không được học hành có bài bản, chỉ nhờ ở tinh thần trách nhiệm trước tổng tư lệnh tối cao và với đất nước và với tính tò mò đi sâu nghiên cứu từ việc nhỏ tới việc lớn, những ý kiến xác đáng của tôi góp ý đã có tác dụng giúp đỡ các đơn vị đánh thắng ngay từ những trận đầu. Một tháng sau, tôi được chỉ định làm trung đoàn (E) phó Trung đoàn28 (E28). Cũng một tháng sau, tôi làm E trưởng E28 thay anh Liên Đoàn.

Mặc dù địch mạnh hơn ta gấp 100 lần, bộ đội, dân quân, du kích đường số 4 vẫn ngày đêm bám lấy thắt lưng địch, không cho chúng một phút rảnh tay lùng sục, càn quét, cướp bóc.

Suốt 3 năm liền, ĐS4 rền vang không ngớt tiếng súng đạn. Ta đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, có nơi đánh đi đánh lại nhiều lần, trận sau to hơn trận trước và ta vẫn thắng, trận sau thắng lớn hơn trận trước. Vũ khí thu được từ tay giặc càng ngày càng nhiều. Ngoài trang bị cho mình còn thừa giúp cho nhiều đơn vị bạn. Riêng ở đoạn Bông Lau – Lũng Phầy, ta đánh đến 5 lần (lần 1: 27 xe, lần 5: 133 xe). Riêng về Việt: mỗi tháng 25 ngày ở Mặt trận, 5 ngày về hậu phương bàn bạc công việc với Chính uỷ Hà Kế Tấn sau này là Chỉnh uỷ Chu Huy Mân.

Thế và lực giữa ta và địch đã thay đổi. Tình hình đang chuyển biến. Bộ TTL chủ trương mở chiến dịch lớn giải phóng toàn bộ vùng biên giới Việt – Trung. Đặng Văn Việt được giao nhiệm vụ là Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 174, anh Chu Huy Mân là chính trị viên.

* Một mật lệnh: “Việt và E174 chuẩn bị đánh Cao Bằng cùng E209!” :

Tôi và các cán bộ chủ chốt đi nghiên cứu địa thế Cao Bằng, lập sa bàn, bàn các phương án tác chiến. Tôi xin gặp anh Thái và báo cáo: “E174 đã sẵn sàng, Cao Bằng khó đánh vì địch đã xây dưng liên hoàn hệ thống lô cốt, nếu đánh thì thương vong sẽ lớn và không chắc thắng”.

Lập tức, anh Thái báo cáo lên anh Văn và sau đó anh Văn và anh Cao Pha – Trưởng phòng II trực tiếp đi thị sát thực địa Cao Bằng một ngày, sau đó nhất trí với ý kiến của E trưởng 174. Anh Văn báo cáo lên Bác Hồ cùng đoàn cố vấn. Được sự nhất trí và mật lệnh mới được ban hành: “Lúc đầu định lấy Cao Bằng làm mục tiêu số 1; Nay có chủ trương mới, lấy Đông Khê làm mục tiêu số 1 để mở màn chiến dịch. E174 đã một lần chiến thắng Đông Khê (trong tháng 5/1950); Nay tiếp tục giao E174 làm chủ công đánh từ hướng Bắc; Giao E209 của Lê Trọng Tấn làm Thứ công, đánh từ hướng Nam”.

Việc đánh Đông Khê lúc đầu có khó khăn, nhưng cuối cùng E174 cùng E209 đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ được giao. Tiêu diệt pháo đài Đông Khê – tạo điều kiện cho chủ trương đánh điểm và diệt viện. Đánh điểm đã khó, chờ được viện quân của giặc Pháp tới để diệt không phải là dễ. Nhưng cuối cùng, quân đội viễn chinh Pháp cũng phải chịu xuất quân đi cứu viện.

Từ tổng hành dinh, anh Văn ra lệnh: “E174, E209, F308 phối hợp chặn và tiêu diệt hai binh đoàn Lepage và Charton. Bắt sống hai tên đại tá. Không được bắn chết”.

Trong thời gian ngắn từ 1 đến 8/10/1950, ba đơn vị chủ lực của Tướng Giáp đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt 9 tiểu đoàn tinh nhuệ của quân đội viễn chinh Pháp, bắt sống hai đại tá chỉ huy. Địch rút chạy khỏi ĐS4 tới Lộc Bình. Đoạn còn lại của ĐS4 từ Đình Lập tới Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái thuộc phân khu duyên hải (zone maritime) vẫn nằm trong tay giặc.

Mới được nghỉ xả hơi có mấy ngày sau một chiến dịch lớn, E174 lại nhận được nhiệm vụ mới.

* “E174 tiêu diệt phân khu duyên hải, giải phóng hoàn toàn ĐS4 !” :

Vùng duyên hải phần lớn thuộc dân tộc Ngái và dân tộc Hán đã được giặc Pháp phản động hóa cao độ. Cơ sở cách mạng của ta rất yếu. E174 chọn Bình Liêu làm điểm huyệt quyết tử của chiến dịch. Muốn trinh sát đồn Bình Liêu, ta phải vòng qua đất Trung Quốc rồi quay lại đất Bình Liêu. Đánh Bình Liêu rất khó khăn. Chỉ có 100 viên đạn pháo 75mm, đã dùng hết 98 viên mà đồn Bình Liêu vẫn không suy chuyển. Một sáng kiến đặc biệt cuối cùng đã được áp dụng để giành chiến thắng, đó là: Đưa một khẩu pháo 75mm đến cách lô cốt mẹ 30m, ngắm qua lòng súng bắn sao cho viên đạn chui thẳng vào lỗ châu mai, phá tan lô cốt, tạo thời cơ đột phá và tiêu diệt hoàn toàn đồn Bình Liêu.

Điểm huyệt Bình Liêu bị hạ, gây một chấn động lớn. Quân Pháp ở các đồn Đình Lập, Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cáy đều bỏ rút chạy ra biển về Hải Phòng. ĐS4 từ Trà Lĩnh tới Móng Cái sạch bóng quân thù. Muốn tìm một tên giặc để đánh cũng không còn.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn, E174 vẫn luôn có mặt trong các chiến dịch quan trọng. Đến 1952, Địch mở chiến dịch Hòa Bình nhằm đánh chiếm Đường số 6 sâu vào hậu phương của ta. Từ Bộ TTL lại có lệnh:

* “E174 chuẩn bị vào vùng hậu địch phá toang hậu phương an toàn của địch để phối hợp với các đơn vị trên Đường số 6 !” :

Vùng tam giác đồng bằng Bắc Bộ là hậu phương an toàn của quân đội viễn chinh Pháp. Các làng mạc đều có tháp canh, tề, ngụy, lính dõng. Các đường xá đều có đồn bốt canh phòng. Hệ thống pháo binh được bố trí thành từng ô, chỗ nào địch cũng bắn đến được. Các đơn vị GM cơ động được bố trí ở các vị trí chiến lược. Các đơn vị xe tăng luôn sẵn sàng. Với cách bố trí như vậy, chỉ 1 tiểu đội 10 người lọt qua ĐS 5 thì hôm sau không một ai còn sống sót.

Nay E174 được lệnh vào vùng sau lưng địch với 5.500 quân, 6 khẩu súng 75mm, 12 súng ĐKZ, 2 khẩu 120mm, 8 khẩu 81mm và 12 khẩu 12,7mm. Muốn vào được vùng địch tạm chiếm thì phải giải quyết hàng trăm vấn đề khó khăn. Chúng tôi thường nói vui với nhau rằng: “Đây là lệnh khai tử cho cả E174″.

Tôi và anh Chu Huy Mân đã bàn mọi kế sách để thi hành lệnh của Tổng Chỉ Huy. Tôi cũng đã tổ chức học suốt một đêm kinh nghiệm của E 42 chống càn quét và sống trong lòng địch. Do vậy, trong 4 tháng hoạt động trong vùng địch hậu, dựa vào đảng bộ, tỉnh đội và nhân dân, E174 đã chống lại được hơn chục cuộc hành quân càn quét của địch, diệt gần 100 tháp canh, đồn, bốt, giải phóng nhiều vùng, tạo một số căn cứ lõm trong lòng địch, thu hàng trăm vũ khí để trao cho địa phương quân. Uy hiếp Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, buộc địch phải rút bỏ ĐS 6 về củng cố hậu phương.

Sau 4 tháng trong lòng địch, chúng tôi được lệnh rút ra vùng tự do, chờ nhiệm vụ mới, vẫn giữ nguyên được quân số và vũ khí. Ai cũng đều có chung một cảm tưởng là từ cõi chết trở về và cùng có một nhận xét là sở dĩ ta thắng được là do biết dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, của đảng bộ và tỉnh đội các địa phương.

Đến chiến dịch Tây Bắc (1952), E 174 được lệnh:

* “Việt và E174 tiến vào giải phóng vùng Tây Bắc, tiêu diệt vị trí Mộc Châu !”:

Trong 5 ngày, E174 đã tiêu diệt Ca Vịnh – Ba Khe – Thượng Bằng La, mở rộng cánh cửa tiến vào Tây Bắc. Mộc Châu là một phân khu kiên cố bậc nhất với gần 100 lô cốt và hỏa điểm, 20.000 quả mìn, 2000 tấn dây thép gai, 4 đại đội quân, trên địa thế hiểm trở với núi đá tai mèo, vách đứng thành vại. Giặc Pháp cho Mộc Châu là bất khả xâm phạm. Chúng tôi đã đi quan sát thực địa và bàn kế hoạch tác chiến. Nếu đánh theo cách bình thường thì cả Trung đoàn chỉ tới được hàng rào đồn giặc là đã hy sinh hết. Chúng tôi đã đánh với phương án độc đáo nhất là trong 15 phút phải chiếm cho được đỉnh pháo đài, bắt sống đồn trưởng, tiêu diệt hết hỏa lực mạnh, cắt mọi thông tin và rồi từ đỉnh núi đánh tỏa xuống.

Với cách đánh trên, đồn Mộc Châu bị tiêu diệt hoàn toàn sau 3 giờ 20 phút.

Sau chiến thắng Mộc Châu, binh lính Pháp tại các đồn bốt ở Tuần Giáo, Yên Châu, Cò Nòi, Điện Biên Phủ, Vạn Hoa, Sơn La, Lai Châu… hoang mang cực độ. Hễ thấy bóng anh lính Cụ Hồ là cong đuôi chạy, không phải đánh mà cả vùng rộng lớn Tây Bắc được giải phóng lần thứ nhất (1952). Chiến thắng Mộc Châu đã làm chấn động toàn quân khu Tây Bắc và làm tiền đề cho việc quân Pháp nhảy dù xuống Na Sản và sau này là Điện Biên Phủ.

* “E174 được lệnh giải quyết trận đồi A1 trên mặt trận Điện Biên Phủ !”:

Trong trận này, tôi không được tham gia vì được cử đi sang Trung Quốc học một khóa quân sự. Anh Nguyễn Hữu An – Tiểu đoàn trưởng từ đấy thay tôi làm trung đoàn trưởng E174. Trận đánh chiếm Đồi A1 tuy chiến thắng nhưng kéo dài 38 ngày đêm, tổn thất lớn. Đây là một việc đau lòng. Việt tiếc là không có điều kiện có mặt để làm anh Văn vui lòng như trong bao lần khác.

* “E174 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phòng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước !”:

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, anh Văn vẫn coi E174 là quả đấm thép – anh dũng E174 trong trận giải phóng Cánh đồng Chum giúp cách mạng Lào trong chiến dịch Hồ Chí Minh. E174 là quả đấm thép đánh trận giải phóng Ban Mê Thuật góp phần thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất cả nước. Anh Nguyễn Hữu An, người thay thế Đặng Văn Việt đã giữ vững ngọn cờ, tiếp tục phát huy truyền thống “Bách chiến, bách thắng” của E174.

Riêng Việt cũng cảm thấy vui và vinh dự, đã được anh Văn coi là một cán bộ tin cậy của anh. Việt cũng tiếc không có mặt trong chiến tranh chống Mỹ để có một số đóng góp, một số trận đánh đẹp ghi vào cuốn sổ vàng lịch sử của Quân đội ta, làm anh càng vui thêm.

Trung đoàn 174, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đứa con đầu lòng của các dân tộc vùng Cao – Bắc – Lạng, của chiến khu Việt Bắc, căn cứ địa thiêng liêng của cuộc kháng chiến, đã vinh dự được xếp hạng là một trong những lá cờ đầu của toàn quân.

Vinh dự ấy, vinh quang ấy thuộc về Bác Hồ kính yêu, về Đảng lãnh đạo, về Bộ Tổng Tư Lệnh mà đứng đầu là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

Tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của Bác Hồ, anh linh của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp – hai vị anh hùng vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>