Hồi ức về chiến dịch Điện Biên Phủ

Đại tá HOÀNG MINH PHƯƠNG
Nguyên trợ lý Bộ chỉ huy chiến dịch Điên Biên Phủ

Toàn văn bản tham luận tác giả đọc tại cuộc hội thảo khoa học tổ chức trong hai ngày 19 và 20.4.2004 tại Trường Đại học Bắc Kinh

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Hoàng Minh Phương mùa đông 1961 tại vịnh Hạ Long. Ảnh: Hoàng Minh Phương.

Thưa các vị đồng chủ tịch,
Thưa các học giả Trung Quốc, Pháp và Việt Nam,
Thưa tất cả các bạn,

Nửa thế kỷ trước đây, tôi là trợ lý của Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trong quan hệ với đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống Pháp. Tôi được giao nhiệm vụ này vì biết tiếng Trung Quốc và từng được sang học tập ở Trường Đảng trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (Học viện Mác Lênin Bắc Kinh) năm 1949-1950. Điều rất vui mừng đối với tôi tại cuộc hội thảo này là được gặp lại đồng chí Văn Trang, người từng dạy chúng tôi học tiếng Hoa ở căn cứ địa Việt Bắc cách đây hơn 55 năm, nay là Giáo sư ở Trường Đại học ngoại ngữ Bắc Kinh. Đồng chí Văn Trang sang Việt Nam khoảng cuối năm 1947, công tác ở Nha Hoa kiều vụ trung ương của Việt Nam, về sau là tổ trưởng tổ phiên dịch của Đoàn cố vấn Trung Quốc do đồng chí La Quý Ba lãnh đạo. Xin cho phép tôi được nhiệt liệt chào mừng và cám ơn đồng chí, người thầy, người bạn Trung quốc đã cùng nhân dân Việt Nam đồng cam cộng khổ từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhớ lại thời bấy giờ, trong hoàn cảnh bị chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động Tưởng Giới Thạch bao vây bốn phía, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, kiên cường chiến đấu trong những điều kiện cực kỳ gian khổ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, chúng tôi đã thực hiện được càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân đội Pháp. Dân quân du kích và bộ đội địa phương ngày một trưởng thành, bộ đội chủ lực không ngừng lớn mạnh. Từ các tiểu đoàn, trung đoàn tập trung ban đầu, đến năm 1949-1950, chúng tôi đã tiến lên xây dựng được các đại đoàn chủ lực.

Tuy nhiên, vũ khí của các đơn vị lúc ấy vừa thiếu vừa không thống nhất, cán bộ chiến sĩ còn thiếu kinh nghiệm tác chiến tập trung, khả năng bảo đảm vật chất của hậu phương cho các chiến dịch lớn còn hạn chế. Trong bối cảnh đó việc Quân giải phóng nhân dân Trung quốc giải phóng Hoa Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo cho cuộc kháng chiến của Việt Nam những điều kiện cực kỳ thuận lợi. Từ chỗ phải hoàn toàn tự lực chiến đấu trong vòng vây chúng tôi bắt đầu nhận được sự viện trợ quốc tế, trước hết là của Đảng, Chính phủ Nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Dựa vào sức mình là chính cộng với sự giúp đỡ về vật chất và kinh nghiệm của Trung quốc, cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam đã chuyển sang thời kỳ phản công chiến lược, mở đầu bằng chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950.

Tháng 1 năm 1953, qua kinh nghiệm của 3 chiến dịch ở Trung du và Đồng bằng, của 2 chiến dịch Hoà Bình và Tây bắc diễn ra trong 2 năm 1951-1952, hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra phương hướng chiến lược cho bộ đội chủ lực là : “Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai, đồng thời bắt chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, do phải phân tán bình lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng” [1].

Trung ương Đảng lại một lần nữa xác định : “Phương châm chung của cuộc chiến tranh giải phóng của ta là TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN TỰ LỰC CÁNH SINH vì vậy ta không chủ quan khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh” [2].

Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương, sau chiến dịch Thượng Lào thắng lợi mùa xuân năm 1953, các đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam khẩn trương chuẩn bị để thu đông năm 1953, sẽ tiến lên Tây bắc, tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản và giải phóng Lai Châu. Nhưng thượng tuần tháng 8-1953, quân Pháp rút toàn bộ binh lực ở Nà Sản về tập trung ở đồng bằng Bắc bộ. Trước tình hình đó, ngày 22 tháng 8 năm 1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp hội nghị để nhận định tình hình và bàn chủ trương tác chiến. Lúc bấy giờ đồng chí Vi Quốc Thanh về nước chưa sang, đồng chí La Quý Ba đã tham dự cuộc hội nghị đó.

Tại hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo đề án của Tổng quân ủy nhan đề : “Tình hình địch ta ở Bắc bộ sau khi địch rút khỏi Nà Sản và chủ trương tác chiến của ta trong thu đông 1953”. Báo cáo có đoạn viết : “Căn cứ vào tình hình địch ta hiện nay ở đồng bằng, vì lực lượng cơ động địch mạnh, công sự kiên cố, vì ta chưa thực hiện được binh lực ưu thế tuyệt đối, lại có những vấn đề chiến thuật mới để ra để giải quyết. Vì vậy hiện nay chưa có điều kiện tác chiến lớn ở đồng bằng. Việc dùng các binh chủng mới như trọng pháo hay XX [3] cũng chưa có lợi mà trái lại dễ làm cho bộ đội nặng nề, khó giữ bí mật, khó vận động nhanh chóng, dễ đi đến bị động” [4].

“Địch tập trung lực lượng ở đồng bằng Bắc bộ, ta cần phân tán chủ lực của chúng ra các chiến trường khác. Đó là một chủ trương chính xác Trung ương đã đề ra trước đây và thực tế chúng ta đã phân tán được khá nhiều chủ lực của địch lên Tây bắc và Thượng Lào trong một thời gian” [5].

Đồng chí La Quý Ba đã phát biểu ý kiến trong hội nghị, biểu thị sự nhất trí với báo cáo của Tổng quân ủy, phân tích thêm âm mưu của địch và nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là phải phá âm mưu tập trung binh lực và bình định đồng bằng của địch để tạo điều kiện tác chiến tương đối lớn. Sau khi đồng chí Vi Quốc Thanh trở lại Việt Nam vào hạ tuần tháng 10-1953 và cung cấp cho Việt Nam toàn văn bản kế hoạch Navarre do tình báo Trung Quốc thu được, Tổng quân uỷ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam càng có cơ sở để khẳng định và hoàn chỉnh chủ trương tác chiến đã được đề ra từ tháng 8: Dùng một bộ phận quân chủ lực, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, mở các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Tây nguyên, lấy Tây bắc làm hướng chính nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải phân tán quân cơ động ra đối phó. Khối chủ lực lớn còn lại bí mật giấu quân ở Trung du và cửa ngõ Việt Bắc, sẵn sàng đánh địch tiến công vào hậu phương ta hoặc cơ động đi hướng khác khi tình hình đòi hỏi.

Ngày 20 tháng 11 năm 1953, sau khi phát hiện chủ lực Quân đội Việt Nam tiến lên Tây bắc, Navarre cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Ngày 26-11, đoàn cán bộ đi trước của Tiền phương Bộ Tổng tư lệnh do thiếu tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái dẫn đầu lên đường đi Tây Bắc. Cùng đi có Phó đoàn trưởng – Tham mưu trưởng Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc Mai Gia Sinh, một số cán bộ và cố vấn tham mưu, chính trị, cung cấp. Tôi cũng được phân công đi trước trong đoàn này.

Ngày 30-11-1953, Đoàn đến Nà Sản, chủ trương dừng lại một ngày để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm mà địch vừa rút bỏ hồi tháng 8. Ngày 6-12-1953, Đoàn đến Sở chỉ huy đầu tiên của Chiến dịch Điện Biên Phủ ở hang Thẩm Púa.

Đoàn dành 3 ngày để nắm tình hình địch và địa hình Điện Biên Phủ, chỉ đạo Đại đoàn 316 đánh địch ở Lai Châu đang rút chạy, lệnh cho Đại đoàn 308 nhanh chóng bao vây Điện Biên Phủ, chỉ đạo bộ đội công binh gấp rút mở rộng đường Tuần Giáo đi Mường Thanh để xe kéo pháo và xe vận tải có thể vào sát chiến trường.

Lúc này, căn cứ vào báo cáo và bản vẽ của các mũi trinh sát tiền phương và các đơn vị thuộc trung đoàn 148 đã bám sát và đánh địch từ đầu, kết hợp với tin trinh sát kỹ thuật, ta đã nắm được tương đối cụ thể địa hình và các vị trí đóng quân của địch. Hơn nửa tháng sau khi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, binh lực chúng đã lên đến 9 tiểu đoàn. Chúng đã san bằng thị trấn Mường Thanh để xây dựng Sở chỉ huy và trận địa pháo. Tuy nhiên, phần lớn công sự còn làm theo kiểu dã chiến, phòng ngự địch ở phía tây còn nhiều sơ hở. Anh em báo cáo: Một chiến sĩ trinh sát có lần vào gần sân bay lấy đồ tiếp tế và phục bắt tù binh, đến sáng không ra được, đã giấu mình trong đống dù, nằm ăn đồ hộp và ngủ cả ngày mà địch không hề hay biết!

Ngày 9-12-1953, căn cứ vào tình hình địch và địa hình, Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, cố vấn Mai Gia Sinh cùng một số cán bộ và cố vấn tham mưu bàn cách đánh. Tôi phiên dịch cho cả hai bên. Có hai phương án được đề ra :

- Một là: Dùng toàn bộ lực tượng bộ binh dưới sự yểm trợ của pháo binh và cao xạ, nhiều hướng cùng một lúc tiến công vào tập đoàn cứ điểm, hướng chính thọc sâu vào Sở chỉ huy, giống như một lưỡi gươm đâm thẳng vào tim, tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu rồi từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn.

- Hai là: Bao vây địch dài ngày rồi đánh dần từng bước một, lần lượt tiến công từng trung tâm đề kháng bằng nhiều trận công kiên kế tiếp, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn quân địch.

Cố vấn Mai Gia Sinh gọi cách đánh thứ nhất là “chiến thuật moi tim” (oa tâm trạng chiến thuật), cách đánh thứ hai là “chiến thuật bóc vỏ” (bóc bì chiến thuật). Ông phân tích : “Năm ngoái đánh Nà Sản ta dùng “chiến thuật bóc vỏ” lần lượt đánh từng vị trí, lại không có trọng pháo tầm xa để chế áp pháo binh và Sở chỉ huy địch, nên chúng tập trung được toàn bộ hoả lực của tập đoàn cứ điểm chi viện cho từng vị trí bị tiến công. Ta thương vong nhiều mà không dứt điểm được. Mà có dứt điểm thì cũng không giữ được như vị trí Pú Hồng. Ở Điện Biên Phủ hiện nay, địch còn trong trạng thái tạm thời phòng ngự, công sự chưa vững chắc, lại có nhiều sơ hở ở phía tây. Ta nên tranh thủ đánh sớm, đánh nhanh bằng sức mạnh mới của của bộ pháo hiệp đồng, dùng “chiến thuật moi tim” để tiêu diệt dịch. Nếu không đánh sớm, địch tăng thêm binh lực. củng cố công sự và hoàn chỉnh thế bố phòng thì e sẽ gặp khó khăn”.

Thiếu tướng Hoàng Văn Thái đặt vấn đề : “Làm thế nào để đưa pháo vào trận địa khi ta chủ trương đánh sớm, đánh nhanh mà chưa kịp làm đường cho xe kéo pháo? Làm thế nào để hạn chế tác dụng của máy bay, pháo binh, giảm bớt thương vong khi ta đánh liên tục cả ban ngày?”.

Mai cố vấn giải đáp : “Sau khi hoàn thành mở rộng đường Tuần Giáo – Mường Thanh, ta chỉ cần đốn cây, phát cỏ rồi dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Việc này chúng tôi đã từng làm, tuy có khó khăn vất vả nhưng sẽ tạo được bất ngờ lớn. Về việc đối phó với máy bay và pháo địch, ta có khả năng làm được : trận đánh sẽ bắt đầu bằng một trận pháo cấp tập dữ dội, làm cho pháo địch và máy bay thường trực ở sân bay bị tổn thất nặng ngay từ đầu. Tiếp đó là các mũi đột kích của bộ binh thọc sâu vào chia cắt đội hình, mũi chủ yếu đánh vào Sở chỉ huy theo kiểu “nở hoa trong lòng địch” (tâm trung khai hoa). Ta làm được như vậy thi các trận đánh ban ngày sẽ diễn ra trong trạng thái địch ta xen kẽ. Máy bay và pháo địch không dễ dàng bắn trúng đội hình chiến đấu của ta mà không gây thương vong cho quân của chúng. Tôi được thông báo là các tiểu đoàn pháo cao xạ của Liên Xô viện trợ và đưa qua Trung Quốc huấn luyện đã tiến bộ khá nhanh. Trước khi về nước, cán bộ và chiến si đã nắm vững chiến thuật và kỹ thuật. Đây là một lực lượng đáng tin cậy để hạn chế hoạt động của không quân địch”.

Sau khi cân nhắc thuận lợi và khó khăn về cách đánh cũng như về khả năng bảo đảm hậu cần, hai ông nhất trí chọn phương án đánh nhanh thắng nhanh để chuẩn bị báo cáo với Đại tướng Tổng tư lệnh và Trưởng đoàn cố vấn.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>