Tại sao chúng ta vào Việt Nam?

Than hồng chiến tranh
Sự sụp đổ của một đế chế và sự hình thành một Việt Nam của Mỹ
Bởi Fredrik Logevall

Tác giả: ALAN BRINKLEY
Nytimes: September 7, 2012

Bìa sách: Embers of war của Fredrik Logevall

Trong hội nghị Casablanca vào tháng Giêng năm 1943, Franklin Roosevelt nói với con trai mình một cách cay nghiệt về chủ nghĩa đế quốc châu Âu: “Elliott, đừng bao giờ nghĩ rằng người Mỹ lại phải chết ở Thái Bình Dương đêm nay nếu nó không phải vì lòng tham thiển cận của người Pháp, người Anh và người Hà Lan.” Trước đó, ông đã nói thẳng thắn với các phóng viên Nhà Trắng: “Chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ có bất kỳ chủng tộc người nào trên trái đất này có cái thiên mạng được phục vụ như những ông chủ trên lưng những đồng loại của mình… Chúng tôi tin rằng bất kỳ quốc gia nào, dù nhỏ đến đâu, đều có quyền cố hữu với quốc gia của riêng họ.” Đó là cốt lõi của Hiến chương Đại Tây Dương vào năm 1941 mà cả Churchill và Roosevelt đều ký kết. Nó kêu gọi “quyền của tất cả các dân tộc trong việc tự do lựa chọn chế độ họ muốn sống.”

Bốn năm sau, thế chiến kết thúc và Roosevelt chết, tổng thống mới lên nắm quyền biết rất ít về cách nhìn về tương lai thế giới của người tiền nhiệm. Harry Truman bỏ qua những đoạn chống chủ nghĩa thực dân của Hiến chương Đại Tây Dương (cũng giống như Churchill đã làm) và ủng hộ sự tiếp tục của chủ nghĩa đế quốc giữa các cường quốc lớn – một quyết định đã giúp chính phủ Pháp khôi phục lại chỗ đứng của họ ở đế quốc Pháp, bao gồm cả thuộc địa bị mất: Việt Nam. Sau này, George F. Kennan từng gọi quyết định này là “quyết định thảm họa nhất của Mỹ trong toàn bộ 200 năm lịch sử.”

Cuốn sách tuyệt vời của Fredrik Logevall viết năm 1999, có tên “Lựa chọn chiến tranh” kể về sự leo thang của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam những năm đầu thập niên 1960. Với “Than hồng chiến tranh”, ông đã viết một cuốn sách thậm chí còn ấn tượng hơn, kể về cuộc xung đột của người Pháp tại Việt Nam và sự khởi đầu của xung đột Mỹ – từ khi kết thúc Thế chiến thứ II đến đoạn đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam lần 2 vào năm 1959. Nó là quyển sách lịch sử toàn diện nhất về giai đoạn này. Logevall, giáo sư lịch sử tại Đại học Cornell, đã viết sách dựa trên những tài liệu nghiên cứu trong nhiều năm của nhiều học giả và của chính ông. Ông đã vẽ ra một bức chân dung có sức lôi cuốn mạnh mẽ về cuộc chiến tồi tệ và vô ích của người Pháp, cuộc chiến mà người Mỹ đã học được rất ít khi họ tăng dần sự can thiệp của mình vào Việt Nam.

Logevall bắt đầu quyển sách kể về những nỗ lực của Hồ Chí Minh, người đã dành cả cuộc đời để mang lại độc lập cho đất nước mình. Ông chiến đấu bên cạnh người Mỹ chống lại Nhật Bản trong Thế chiến II, và ông đã hy vọng có thể xây dựng một quốc gia Việt Nam độc lập với sự ủng hộ của Mỹ. Nhưng bởi do Đảng Việt Minh của Hồ vừa là Quốc gia vừa là Cộng sản, sự ủng hộ của Mỹ đã trở thành điều không thể trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh lạnh ngày càng trở nên sâu sắc. Vào năm 1946, Hồ đã chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến để đánh đuổi người Pháp. Nhưng một chính phủ Pháp, yếu và thường xuyên bị thay đổi, lại có ý tưởng khác. Họ đặt quyết tâm khôi phục lại Việt Nam thành thuộc địa và họ làm việc ấy với sự giúp đỡ tài chính của Hoa Kỳ. Người Pháp khăng khăng rằng nếu mất Việt Nam, nền kinh tế của họ sẽ sụp đổ. Nhưng thật ra cái họ muốn còn nhiều hơn là tiền bạc. Đó là giành lại những gì họ coi là sự vĩ đại của một nước “Pháp trường tồn”, trong đó bao gồm cả các thuộc địa của nó .

Cuộc chiến tranh này của người Pháp là một cuộc xung đột xấu xí và dai dẳng, kéo dài gần một thập kỷ. Nó đạt đến đỉnh điểm vào năm 1954 tại Điện Biên Phủ, một khu vực hẻo lánh được bao quanh bởi những ngọn đồi vùng núi Tây Bắc, nơi mà người Pháp tin rằng họ có thể “chịu được bất kỳ cuộc tấn công nào mà Việt Minh có khả năng tung ra.” Cuộc bao vây dài ngày ở Điện Biên Phủ có thể đã có kết cục nghiêng về bên này hay bên kia, tuy nhiên người Pháp đã đánh giá thấp sức mạnh của Việt Minh, và bại trận. Kết thúc, 110.000 quân Pháp chết – gấp đôi số ca tử vong của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam lần hai. Khoảng 200.000 binh lính Việt Minh đã bị giết , cùng với 125.000 dân thường. Đến năm 1955, người Pháp buộc phải rời khỏi Việt Nam, từ bỏ những gì họ đã từng được coi là viên ngọc quý của đế chế.

Những người lính Việt Nam trong trận Điện biên Phủ năm 1954. Ảnh: Agence France-Presse

Logevall không chỉ rất thiện nghệ trong việc mô tả chiến tranh, ông cũng rất tài tình trong việc giải thích chính sách ngoại giao về Việt Nam trong những năm 1950. Tại hội nghị Geneva năm 1954, đã có sự bất đồng nội bộ trong về việc Hoa Kỳ nên đóng vai trò như thế nào một khi người Pháp ra đi. Ngoại trưởng John Foster Dulles (người chỉ tham gia hội nghị một thời gian ngắn) tin rằng Mỹ nên chiếm chỗ của người Pháp và tiếp tục cuộc chiến. Nhưng Eisenhower, người hiểu rõ thực tế chiến tranh là thế nào, từ chối gửi quân đội Mỹ vào Việt Nam. Thay vào đó, ông đồng ý với những người khác tại Hội nghị Geneva để phân chia đất nước này – để lại miền Bắc dưới chính phủ của Hồ Chí Minh và Việt Minh, và miền Nam dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, một quý tộc Công giáo, người hy vọng sẽ tạo ra một chế độ thân phương Tây trong mối ràng buộc khăng khít với Hoa Kỳ. Vào năm 1956, theo hiệp định phải có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước dưới một chính phủ duy nhất – cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra .

Trong khi đó, mỗi bên sẽ phải rút quân khỏi lãnh thổ của nhau. Nhưng cả hai bên có thể để lại những người ủng hộ họ để hoạt đông (giả thiết là một cách hòa bình) nhằm giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sắp tới. Điều đó có nghĩa rằng trong khi Việt Minh phải rút quân khỏi miền Nam, họ không phải đưa ra Bắc toàn bộ các “cán bộ”, những tế bào ủng hộ chính trị. Những người sẽ sớm trở thành lính du kích bắt đầu cuộc tấn công vào chế độ Diệm.

Eisenhower lâu nay vẫn được ngưỡng mộ cho sự từ chối gửi quân vào chiến tranh Việt Nam. Nhưng Logevall đã làm rõ rằng ông ta còn xa mới là người kiến tạo hoà bình. Ông không muốn đưa quân Mỹ vào Việt Nam, nhưng ông cũng quyết tâm không để cho phép miền Nam Việt Nam sụp đổ. Trong một thời gian, Diệm tỏ ra là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và thành công, có khả năng ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của Việt Minh để chinh phục miền Nam. Và cũng một thời gian, Diệm là người hùng của Mỹ – được trọng vọng bởi các nhà lãnh đạo ở Washington và phần đông công chúng Mỹ. Nhưng ông ta càng thành công, Hồ càng quyết tâm làm cho suy yếu . Năm 1959, những người lính Việt Minh đã xâm nhập miền Nam và leo thang bạo lực ở miền Nam Việt Nam. Vào thời điểm Eisenhower rời chính quyền, đã có khoảng 1.000 “cố vấn” người Mỹ (gần như tất cả trong số họ đều về quân sự ), và còn nhiều nữa sẽ tới.

Mục tiêu đoàn kết dân tộc của miền Bắc Việt Nam phải đối mặt với những trở ngại của riêng nó. Nó bị cản trở bởi cuộc cải cách ruộng đất khắc nghiệt và không được lòng dân của Hồ, mà cuối cùng ông phải từ bỏ. Nó cũng bị phá hoại bởi nhiều người miền Bắc chạy trốn – trong đó có người Công giáo Việt Nam – vì nỗi sợ sẽ bị bức hại nếu họ ở lại. Mặc dù vậy, Việt Minh vẫn tiếp tục , từ từ và thận trọng, tạo ra một quân đội ở miền Nam chiến đấu chống lại cường quốc mạnh nhất thế giới. Ngay từ năm 1957, trong khi Diệm vẫn còn nhận được ủng hộ từ dân chúng, các phóng viên phát hiện ra rằng 452 quan lại ở nông thôn đã chết trong một năm, bị ám sát các nhà chỉ huy Việt Minh nằm vùng. Đó là chỉ là khởi đầu của cuộc xung đột ở miền Nam.

Bernard Fall – một nhà sử học có uy tín cao về cuộc chiến Việt Nam – một lần nhận xét về sự vô nghĩa của hai cuộc chiến tranh. Người Mỹ, ông nói, đã “mơ một giấc mơ khác người Pháp nhưng lại đi cùng một con đường.” Vào năm 1959, không có nhiều người ở Washington tưởng tượng họ sẽ phạm phải những sai lầm tương tự người Pháp. Trong một thời gian người Mỹ tin rằng họ có thể ổn định được nước Nam Việt Nam mới. Nhưng chỉ một vài năm sau đó, họ từ từ bắt đầu nhận ra rằng họ đã bước vào vũng lầy của chính mình.

One thought on “Tại sao chúng ta vào Việt Nam?

  1. Pingback: Những người khốn khổ - Victor Hugo | Quảng Bình Quan

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>