Danh nhân Quảng Bình – Bình dân và uyên bác

TS. Nguyễn Khắc Thái(*)

Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia về Danh nhân Quảng Bình, tháng 7 năm 2012

 1. Có một không gian văn hóa nhiều nghịch lý

Trong những năm gần đây, khi đất nước bùng nổ các hoạt động khuếch trương văn hóa truyền thống thì hầu như ở đâu cũng bắt gặp cụm từ “địa linh, nhân kiệt”. Khách quan mà nói thì đất nào, xứ nào cũng chứa đựng những giá trị thiêng liêng tồn tích bao thế hệ mà thành “địa linh” . Đó là một sự thật không thể chối cãi. “Địa linh” theo cái nhìn hiện đại chính là môi trường sống, là điều kiện nuôi dưỡng nhân tài, mà ngẫm lại, nó chính là cấu trúc tam tài “Thiên – Địa – Nhân”. Tam tài chứa đựng cả ba yếu tố như là định mệnh mà cộng đồng dân tộc nào cũng nâng niu, trân trọng bởi nó là nguồn mạch của tài năng. Đây cũng chính là điều mà Dương Văn An khi viết về vùng đất này đã luôn lấy đó làm cơ sở luận khảo: “Có trời đất mới có núi sông này, nhân vật này… Núi sông ổn định thì nhân vật sinh, nếu không có núi sông thì lấy gì để thấy rõ công tạo lập của trời đất. Nếu không có nhân vật thì lấy gì để thấy rõ khí un đúc của núi sông(1). Vận cái  thực và cái hư vô của trời, đất – núi sông – con người với nguyên lý  tam tài (“Thiên – Địa – Nhân”) của tư duy triết học cổ đại vào thực tiễn đời sống mới thấy vùng đất Quảng Bình có nhiều điều lạ.

QB

Điều lạ thứ nhất mà xưa nay ít người nói đến chính là vị trí “thần đạo” của vùng đất Quảng Bình. Nhìn trên bản đồ không gian lãnh thổ Việt Nam, nếu kẻ các trục chính xuyên Việt gồm trục Bắc Nam (Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh), trục cực Đông phía Bắc nối với cực Tây phía Nam (Móng Cái – Hà Tiên). trục cực Tây ở phía Bắc nối với cực Đông ở phía Nam (Điện Biên – Khánh Hòa) thì bất ngờ thay, tất cả các trục không gian ấy đều gặp nhau trên tâm điểm Quảng Bình. Thật là ngây ngô nếu lấy sự ngẫu nhiên đó để coi Quảng Bình là “tâm điểm”, nhưng có một thực tế rõ ràng là, ở một vị thế độc địa như vậy có thể mọi chu trình vận động lịch sử – văn hóa trên cả hai trục Bắc – Nam / Đông – Tây và ngược lại đều không thể tránh khỏi sự va đập vào Quảng Bình. Tất nhiên ai cũng hiểu cấu trúc Tam tài là một cấu trúc tinh thần/tâm lý. Nhưng xét trên yếu tố đồng đại thì cấu trúc này cũng chính là không gian văn hóa – lịch sử. Tác động ngẫu nhiên của các dòng chảy văn hóa – lịch sử không thể né tránh được sự va đập vào thực thể xã hội khi đi qua Quảng Bình đã dẫn đến kết quả của phản ứng thụ ứng, tiếp nhận hay chuyển hóa để thành cái riêng của không gian văn hóa Quảng Bình. Bằng chứng là trong suốt mấy thiên niên kỷ, địa bàn Quảng Bình vẫn thường là điểm gặp gỡ của những xung đột không phải từ bên trong mà là từ bên ngoài, là từ “trên trời rơi xuống” vậy. Trong các xung đột và giao thoa giữa các xu thế chính trị và xu hướng văn hóa, Quảng Bình luôn luôn là điểm gặp gỡ về văn hóa và điểm chịu trận về chính trị. Về chính trị thì đó là Văn Lang / Việt Thường, Đại Việt / Chiên Thành, Trịnh / Nguyễn và cả miền Nam / miền Bắc trong thời hiện đại. Về văn hóa thì đó là Đông Sơn / Sa Huỳnh, Việt / Chăm, Đằng Trong / Đằng Ngoài, Thăng Long / Phú Xuân… Chính từ sự va đập ấy mà hầu hết các “thiên cơ” quan trọng nhất đối với vùng đất này lại nằm ở phía nghịch chứ không nằm ở phía thuận. Nằm trên đường ranh của sự tranh chấp, chỉ một chút thiên lệch về so sánh lực lượng giữa bên này hay bên kia thì đất Quảng Bình đã có thể chuyển thừ chủ thể sang khách thể và ngược lại. Ví như với sự mở rộng quyền lực hành chính về phía Nam, Quảng Bình từ chỗ là đất Việt Thường ở phía Nam đã trở thành một đơn vị hành chính biên viễn (bộ Việt Thường) của Văn Lang phía Bắc; một sự bùng phát của người Chăm, Quảng Bình lại trở về phía Nam trong vai trò Bắc trấn của Lâm Ấp; rồi Đại Việt hùng mạnh lại đưa vùng đất này trở lại với phía Bắc. Chu trình này lặp đi lặp lại trong suốt mấy thế kỷ để rồi Quảng Bình lại là cái lằn ranh chia cắt Trịnh – Nguyễn và chia cắt Nam – Bắc thời hiện đại. Kéo theo sự chuyển dịch quyền lực hành chính không chỉ là hành chính mà cả văn hóa. Trong hoàn cảnh vô cùng nhạy cảm ấy, người Quảng Bình buộc phải lựa chọn những phản ứng tương hợp “thiên thời” trong điều kiện va đập. Từ đó mà sản sinh “nhân kiệt”. Quả là một “thiên thời” dị biệt, âu là chỉ có ở Quảng Bình.

Điều lạ thứ hai ở Quảng Bình nằm ở thành tố “Địa”, với khát vọng “địa lợi”. Về mặt địa lý, ở miền Trung có một phức hệ sinh thái mà cố GS. Trần Quốc Vượng tổng kết trong một hằng số Núi – Đồi – Đèo – Biển, Đầm – Phá – Cồn – Bàu. Nhưng, trong khi ở các địa phương khác của miền Trung, phức hệ này rải đều trên toàn bộ địa bàn thì tại Quảng Bình phức hệ này lại nằm trong tình trạng mật tập. Là một địa bàn mang tiếng là duyên hải nhưng lại chứa đựng tới hơn 85% diện tích là rừng núi và gò đồi với gần một nửa trong số đó là địa hình karst, kế theo là các khối núi đá mồ côi, núi đất và đồi bát úp. Chưa dừng lại ở đó, địa hình Quảng Bình còn bị xẻ vụn bởi những con sông chạy cắt ngang từ Trường Sơn ra biển và những dãy núi sừng sững mà nhà địa lý Lê Bá Thảo ví nó là những “bức trường thành” chia cắt (2). Chính cái phức hợp trái khoáy của tự nhiên đã làm cho Quảng Bình không có một hệ sinh thái thuần nhất mà được chia năm, xẻ bảy thành các vùng sinh thái – tiểu vùng sinh thái, rồi nhỏ hơn nữa là vi vùng (3). Rõ ràng mỗi vùng sinh thái là một cái nôi nuôi dưỡng cộng đồng, mỗi vùng sinh thái sẽ cho một sắc thái cộng đồng – đó là cách hiểu địa văn hóa. Chính cái mật tập của phức hệ sinh thái đã tạo nên sự khắc nghiệt đến khôn cùng của điều kiện sống và chính nó thử thách con người mà thành “nhân kiệt”. Ở đâu cũng vậy, nhưng riêng ở Quảng Bình thì sự thử thách ấy rất quái đản. Thiên nhiên bắt con người nơi đây khi thì thử nóng, thử lửa (mùa nóng thì nóng “đổ lửa”, nhiệt độ lên tới 400), rồi lại thử lạnh, thử nước (mùa lạnh thì mưa như trút nước đi liền với cái lạnh thấu xương, nhiệt độ xuống đến dưới 100). Thiên nhiên cho thấy cái “có” chứa đựng trong tài nguyên nhưng lại đặt chủ nhân vùng đất này vào thử thách rất khốc liệt nếu muốn từ “có” mà vươn tới cái sự “giàu”. Nhưng không, cái sự “giàu” ấy, bao đời nay vẫn nằm trong “tiềm năng” chứ chưa bao giờ thành hiện thực. Vì sao vậy? Chỉ bởi mọi thử thách để đến với  “địa lợi” nơi đây cứ luôn luôn ở phía trước, chưa bao giờ chịu lùi về phía sau. Địa hình thì chia cắt, xẻ vụn mà con người thì muốn và phải liên kết lại để tồn tại. Thiên nhiên giàu có nhưng con người thì đứng nhìn trong cái đói thắt ruột, ngậm ngùi “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Thiên nhiên có thể theo xu hướng “biến đổi khí hậu” mà đem cái khắc nghiệt nơi này đổi cho nơi khác, nhưng sự phức hợp địa mạo và chia cắt địa hình như là mặc định gắn với số phận con người Quảng Bình rồi. Vậy là cả cái khối nghịch lý khổng lồ trong thành tố “Địa” (của cấu trúc Thiên – Địa  – Nhân) luôn luôn tồn tại dưới dạng nghịch lý. Rõ ràng là có cái “địa lợi” để khẳng định cái giàu có của tài nguyên, nhưng “giàu” của tài nguyên và “có” của con người vẫn chưa song hành với nhau. Cái “địa lợi” ấy đòi hỏi ở con người phải có tố chất khang cường và tuệ mẫn mới có thể chinh phục được cái khắc nghiệt của yếu tố “Địa lợi” nơi đây, đó phải là “nhân kiệt” vậy. Với cái “Địa lợi” ấy, để trở thành “nhân kiệt”, người Quảng Bình phải vất vả biết nhường nào.

Điều lạ thứ ba nằm trong thành tố “Nhân” và với những mơ ước về những giá trị văn hóa – lịch sử mà con người mạng lại trong cái nghĩa an cư, “nhân hòa”. Nói về con người vùng xứ phía Nam Hoành Sơn, cách đây 5 thế kỷ, Dương Văn An đã lấy cái “khẳng khái, hiếu nghĩa”, “tinh thuần, hiếu học” của người xứ Hoan Ái để so sánh với xứ mà ông gộp thành Ô châu để rồi khẳng định như “đinh đóng cột” rằng người xứ này “không thể so được với châu Hoan, châu Ái”(4). Khách quan mà nói thì cả hai phía của Hoành Sơn đều là vùng đất vô cùng khắc nghiệt. Bùi Huy Bích (1744-1818) là hiệp trấn Nghệ An đã viết về sự khắc nghiệt của vùng đất này trong trong tác phẩm “Nghệ An thi tập” (1783-1784) như sau:

Hoan Diễn thiên đa dị /…/ Hạ lai phong tự hỏa / Thu khứ vũ như ma /  Thập nguyệt giang hoàn lạo / …/ Liên không duy điệp chướng / Mãn địa tận hàn sa… (5)

Nghĩa là:  Trời châu Hoan, châu Diễn có nhiều điều lạ; mùa hạ đến thì gió nóng như lửa; thu đã qua mà mưa vẫn cứ mưa; đã qua tháng 10 mà vẫn còn lụt; Núi non thì trùng điệp liền trời; đất đai thì toàn là bãi cát lạnh

Cùng đối trọng (chứ không phải đối lập) hai phía Bắc – Nam Hoành Sơn, có cùng sự “đa dị” của thiên nhiên nhưng chủ thể văn hóa (nhân) thì có khác. Vì sao vậy?  Căn nguyên cũng tại cái vị thế đường ranh lịch sử, khiến một bên phía Bắc có được một dòng chảy liên tục của văn hóa (Việt), nhờ đó mà văn hóa cộng đồng cứ xếp lớp từ nhiều thế hệ kế tục nhau. Còn phía Nam Hoành Sơn thì sự đảo chiều lịch sử liên tục đã buộc con người nơi đây phải thường xuyên điều chỉnh, có khi phải “tái cấu trúc” văn hóa dưới tác động của sự đảo chiều lịch sử, đảo chiều chính trị.

Bối rối trước sự thiếu thuần nhất của dòng chảy văn hóa, nhiều nhà khoa học đã lý giải bằng nhiều cách như là tiếp cận “địa văn hóa”; như là đề xướng vùng giao thoa, thụ ứng; như là tạo dựng lý thuyết cho một trung tâm văn hóa riêng (văn hóa xứ Thuận, văn hóa xứ Quảng…). Đây là điều còn phải bàn nhiều nhưng từ thực tế oái oăm này có thể thấy được rằng, con người nơi đây là sản phẩm đa văn hóa (cũng như là thiên nhiên “đa dị”) vậy. Nền tảng chữ “nhân” chính là văn hóa, nhưng văn hóa nơi đây lại là phức hợp của sự tiếp nhận và chuyển giao các giá trị văn hóa theo cả hai chiều đồng đại và lịch đại. Về mặt lịch đại thì đó là sự đi qua các giá trị Đông Sơn – Sa Huỳnh, Việt – Chăm, Đằng Trong – Đằng Ngoài, Thăng Long – Phú Xuân… Về mặt đồng đại thì nó là sự tương hợp giữa 2 lớp văn hóa, lớp nền là văn hóa bản địa và lớp phủ là văn hóa di dân. Do vậy, cộng đồng dân cư ở đây đa nguồn gốc, đa sắc thái văn hóa. Người bản địa vẫn là cái chất cần cù theo kiểu cam chịu, người di cư mang đến cái chất táo bạo, thoáng đạt và lịch lãm. Sự hòa trộn nhiều thế hệ đã sản sinh ra tố chất cần cù, sáng tạo, cương cường nhưng cũng rất dung dị, ôn hòa. Đó là đặc điểm thường thấy ở những tổ chức hợp quần. Chính sự đa nguồn gốc văn hóa cùng với sự tích hợp các giá trị có được từ tiếp biến, giao thoa và thụ ứng văn hóa hai miền là cơ sở để xuất hiện “nhân kiệt”. Và, nếu “nhân kiệt” ở vùng văn hóa Hoan – Ái là sản phẩm văn hóa có bề dày thuần nhất thì “nhân kiệt” ở vùng văn hóa Nam Hoành Sơn là sản phẩm văn hóa “đa dị”.

2. Vẫn là bình dân…

Những khái quát trên đây từ ba thành tố “Thiên – Địa – Nhân” đã cho thấy không gian lịch sử – văn hóa nơi đây chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù và trong hoàn cảnh đặc thù đó, con người Quảng Bình từ thế hệ này qua thế hệ khác phải thường xuyên đối mặt với thử thách dị thường. Sự đối mặt ấy diễn ra thường nhật trong cuộc đấu tranh để sinh tồn nên nó mang đầy đủ tố chất bình dân của con người bình dân.

Tính bình dân của các danh nhân Quảng Bình trước hết được thể hiện ở điểm xuất phát của họ. Như trên đã nói, do có sự đứt gãy, đảo chiều của tiến trình lịch sử – văn hóa mà vùng đất Quảng Bình là nơi hội tụ của nhiều nguồn dân cư khác nhau. Lớp dân cư bản địa là cộng đồng dân cư thưa thớt, phân bố rải rác ở vùng cận núi (sống nhờ vào tài nguyên thiên nhiên) nên ít có cơ hội tiến thân vượt ra ngoài địa bàn. Phần đông dân cư là cộng đồng di dân từ các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Trong số họ có vài người, hiếm hoi là quan lại, được các vương triều phong kiến đặc phái vào vùng đất mới khai hoang, lập ấp như Hoàng Hối Khanh, Hồ Hồng, Trần Bang Cẩn… còn lại đều là những người lao động nghèo, theo chân những người đi mở cõi mà đến Quảng Bình. Vì thế, ở Quảng Bình không có lớp người “danh gia, vọng tộc”. Danh nhân Quảng Bình gần như không có ai nổi danh nhờ vị trí cao sang, sự giàu có và danh tiếng truyền đời mà hầu hết đều là sự nỗ lực cá nhân với sự khởi đầu từ con số không bình dân. Có những gia tộc thành đạt như họ Trần Đăng ở Lệ Thủy, họ Nguyễn Hữu ở Quảng Ninh, họ Nguyễn Duy ở Bố Trạch, họ Trần Khắc ở Quảng Trạch,… nhưng mỗi thành viên trong dòng họ thành đạt đều là những hình mẫu độc lập của sự tu tâm, tích trí mà nên. Do vậy, bên cạnh số đông danh nhân thành đạt từ điểm xuất phát của người nông dân nghèo khó thì số ít danh nhân khác dù sinh ra trong gia đình có truyền thống nhưng vẫn là sự nỗ lực cá nhân ngay từ điểm xuất phát ban đầu của người bình dân.

Chất bình dân của danh nhân Quảng Bình thể hiện trước hết trong nhân sinh quan của con người Quảng Bình nói chung và của danh nhân nói riêng. Danh nhân Quảng Bình trong vinh quang của thành đạt nhưng vẫn luôn biết danh phận của mình – cái danh phận gắn với nhân dân, danh phận bình dân.

Dương Văn An làm quan đến chức Ngự sử, hàm Thượng thư, tước Sùng Nham hầu, được phong tặng hàm Quận công nhưng cái cốt cách của ông vẫn là cốt cách bình dân. Ông luôn luôn nhận thức rằng sự thành đạt của ông vẫn là do quê hương xứ sở tác thành, hun đúc (“tri phong tục chuyển di chi diệu”). Vẫn biết chốn triều đình tác thành sự nghiệp cho ông (“nhân văn tác thành chi triều“) nhưng ông không bao giờ quên ơn sinh thành dưỡng dục của cha ông mình nơi xứ nghèo khó này làm trọng (“Niệm tổ phụ chi gian nan”)(6). Ông quan niệm làm một điều thiện còn quý hơn áo gấm vua ban, làm một điều ác tất không tránh khỏi sự lên án của người đời (“Nhất thiện chi bao vinh hoa cổn, nhất ác chi biến lẫm hồ phù việt”)(7). Đó không phải là cái gì khác ngoài truyền thống và đạo lý rất bình dân, vốn có trong dòng máu con người Việt Nam.

Tố chất bình dân của danh nhân Quảng Bình còn được thể hiện trong thái độ lấy dân làm trọng, với những lo toan rất bình dân từ cái nhỏ nhặt nhất.

Đô thống Lê Sỹ trưởng thành giữa lúc đất nước đứng trước nguy cơ ngoại xâm. Ông là mệnh quan của triều đình đảm trách việc đối phó với quân xâm lược ở hầu hết các vị trí hiểm yếu. Việc quân như lửa nhưng đi đến đâu ông không quên lấy an dân làm trọng, lo cho dân trước. Ngay cả khi ông được Tự Đức điều động khẩn cấp vào trấn giữ ở Nam Bộ (1862), khi qua đất Bình Thuận thấy đồng khô, có cháy, dân tình lao đao vì hạn hán, ông dừng chân xem xét rồi cho gọi quan trấn nhậm địa hạt nên khuyên bảo cách hướng dẫn cho dân đào mương, đắp dập. Cho hay trong vị thống tướng này, cái lo toan bình dân vẫn là điều thường trực.

Cụ thượng Hoàng Kế Viêm là người có cương vị cao trong triều đình, khi về hưu dưỡng già ở quê, được triều đình lấy ruộng tốt ở làng Thế Lộc ban cho. Thấy dân ở đây nghèo mà lại thiếu ruộng cày cấy, ông đã đem hết ruộng lộc điền vua ban chia cho dân cày cấy, đồng thời huy động con cháu và những người không có ruộng khai hoang cải tạo vùng sình lầy quanh làng thành cánh đồng màu mỡ. Cánh đồng ấy nay vẫn được dân gọi là “Đồng quan Hoàng”. Theo nhân dân địa phương thì cánh đồng do cụ thượng Hoàng khai khẩn có xem xét thế đất, thế nước, chế được úng, chống được hạn nên không bao giờ mất mùa. Đó quả thật là kinh nghiệm của lão nông bình dân lịch lãm về ruộng đất và cày cấy vậy.

Trần Mạnh Đàn tuy không giữ những trọng trách thời ấy nhưng trong cương vị có được của mình, ông luôn chăm lo đến dân, nghĩ đến dân với cái lý rằng muốn mở mang kinh tế, truyền bá văn minh trước hết phải khai mở giao thông, giao thương và lấy cái giao thương, giao thông để đánh giá sự hơn kém của người làm quan. Cái lẽ ấy rất bình dân nhưng phải có cái trí và cái tâm mới làm được.

Có rất nhiều chuyện thể hiện tính bình dân của danh nhân Quảng Bình trong việc lo cái lo của dân nhưng có lẽ cái lo an dân, hội tụ thành đỉnh cao trong tư tưởng của người con Quảng Bình đi mở đất phương Nam – Nguyễn Hữu Cảnh. Là vị tướng văn võ kiêm toàn, uy dũng lẫy lừng nhưng khi ông cầm quân đi mở đất, ông chỉ lấy cái ân đức để thu phục nghịch đảng, lấy cái lòng thương dân mà vỗ về dân chúng. Nhờ thế ông thu phục cả một vùng đất rộng lớn ở Nam Bộ mà không phải dùng đến gươm đao. Từ sự mở đất, ông đã biết đến dân, tổ chức cơ cấu lại hệ thống quản lý hành chính để yên dân, dạy cho dân xây dựng các công trình kinh tế – dân sinh. Nhờ vậy, chỉ trong vòng có 27 tháng, ông vừa thu phục nghịch đảng, vừa chiêu dân lập ấp, khai phá đất đai rộng hàng ngàn dặm vuông, dân di tụ trên 4 vạn hộ (8). Cảm động hơn và đậm chất bình dân hơn cả vẫn là chuyện Nguyễn Hữu Cảnh kêu gọi dân từ vùng Bố Chính, Tân Bình quê hương ông vào Gia Định thiết định phường ấp, tổ chức khai phá, làm ăn sinh sống. Và, trong cái tâm thế rất đổi bình dân, đau đáu nỗi lòng với quê hương, ông đã lấy chính địa danh quê hương để đặt cho hàng loạt vùng đất mới gắn với tên gọi thiêng liêng “Bình” trong đó có dịa danh lấy hẳn từ địa danh quê hương “Tân Bình”. Đó là tình cảm rất đổi bình dân.

Cái bình dân của danh nhân Quảng Bình còn được thể hiện trong sự trung thực, thanh liêm, giản dị và khiêm nhường, bởi đó là phẩm chất nhân dân.

Huỳnh Côn, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông luôn dặn dò quan trấn nhậm địa phương không được để dân làng ông (Trung Bính) lợi dụng danh nghĩa của ông mà làm sai phép nước, ai cũng phải chiếu theo pháp luật mà xử; luật bất vị thân. Ông răn dạy rằng, con mà cậy thế cha là đồ bất hiếu, cháu mà cậy thế ông là đồ bất nghĩa, người quen thân mà cậy thế nhau là đồ bất kính. Trung thực và thanh liêm như thế quá là ít người có.

Một dạng khác của tố chất bình dân trong con người danh nhân Quảng Bình là chuyện Hà Văn Quan, được phong đến Hồng Lô Tự Khanh, cử đi sứ bên Tàu, khi về nước, nhiều người trong đoàn chỉ lo mua sắm báu vật về làm quà cho bề trên và gia đình, riêng Hà Văn Quan khệ nệ bê về một bồ sách, thứ dâng vua, thứ để con cháu. Dù sách là báu vật của giới thức giả nhưng cái kiểu ham sách như ông chỉ có ở dân xứ nghèo mà không muốn dốt, nó cũng đậm chất bình dân vậy.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>